LỜI CHÚA

"Thầy ban cho các con một giới răn mới, là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con".

Thứ ba, ngày 09 tháng tám năm 2011

Thánh Đaminh - Vị Thánh của kinh Mân Côi

Vị Thánh Của Kinh Mân Côi

daminh1Ðaminh, vị thánh Giáo Hội mừng kính hôm nay, mở mắt chào đời năm 1170 bên Tây Ban Nha trong một gia đình quý tộc, nhưng ngay từ nhỏ, Ðaminh đã tập quen sống hãm mình. Ngoài ra, Ðaminh có tính khẳng khái, thích làm việc có hệ thống và chú ý đến việc trau dồi kiến thức.

Khi làm linh mục, rồi kinh sĩ, Ðaminh nổi bật về lòng ngay thẳng, hăng hái và tinh thần hy sinh. Ngài cảm thấy như được Chúa gọi đi để loan báo Tin Mừng cho các bộ lạc bên nước Nga, nhưng Ðức Innocentê thứ 3 lại cử ngài đến hoạt động tại Toulouse bên Pháp, nơi những làn sóng lạc giáo đang làm lung niềm tin của nhiều người.

Ðaminh xác tín rằng: Lời giảng dạy phải đi đôi với cuộc sống. Vì thế, ngài đã lập một hội dòng, quy tụ các tu sĩ sống khó nghèo theo tinh thần Phúc Âm để có thể rao giảng, không chỉ bằng lời nói mà bằng cả cuộc sống của mình. Chính Ðaminh đã là người đầu tiên làm gương về nếp sống ấy bằng cách đi chân không, ngủ dưới đất, ăn chay và sống bằng của bố thí.

Vào năm 1216, Ðức Hônôriô thứ 3 đã phên chuẩn dòng do cha Ðaminh sámg lập mang tên "Dòng anh em giảng thuyết" thưo quy luật của thánh Augustinô, tức là dòng Ðaminh ngày nay. Thiên Chúa chỉ dành cho cha Ðaminh 5 năm vắn vỏi để chu toàn sứ mệnh của người gieo giống. Suốt thời gian này ngài đã rảo qua các nước Pháp, Italia và Tây Ban Nha để rao giảng và đã đưa nhiều người ly giáo trở về với Giáo Hội.

Trong suốt cuộc sống, Ðaminh đã nêu cao gương hy sinh và cầu nguyện. Ngoài ra, ngài còn truyền bá lòng sùng kính Ðức Maria và kinh Mân Côi, vì thế, ngài đã thành lập một dòng nữ để giúp chị em sống theo tinh thần này.

Cha Ðaminh qua đời tại Bologna bên italia ngày 06/8/1221 và chỉ 13 năm sau, vào năm 1234, Ðức Gregoriô thứ 9 tôn phong ngài lên bậc hiển thánh.

Có một câu chuyện thuật lại giấc mơ của thánh Ðaminh: Ngài thấy thế gian sắp bị án công thẳng của Thiên Chúa luận phạt, nhưng được cứu thoát nhờ lời cầu bàu của Ðức Maria. Ðức Mẹ chỉ cho Chúa Giêsu hai hình ảnh: một hình ảnh là chính Ðaminh và hình ảnh kia là một người ăn mày quần áo rách tả tơi.

Ngày hôm sau, trong lúc cầu nguyện trong nhà thờ, Ðaminh thấy người ăn mày trong mộng xuất hiện, tiến đến gần, ôm chầm Ðaminh và nói: "Anh là người đồng hành với tôi. Nếu chúng ta cùng sánh vai tiến bước, thì không quyền lực nào có thể thắng chúng ta". Nhìn kỹ, Ðaminh nhận ra người ăn mày đó chính là Phanxicô thành Assisi.

Cuộc gặp gỡ này của hai vị sáng lập dòng vẫn được các tu sĩ Ðaminh và Phanxicô mừng mỗi năm. Vào ngày lễ kính hai thánh nhân, họ cùng nhau dâng Thánh Lễ và sau đó ngồi vào bàn để chia sẻ với nhau những tấm bánh và những lý tưởng đã làm cho Giáo Hội trở nên phong phú trong việc sống theo tinh thần Phúc Âm trải qua 7 thế kỷ nay.

Lý tưởng mà dòng Ðaminh cũng như của các dòng khác không phải chỉ để chúng ta kính phục, nhưng cũng là để chúng ta noi gương. Các tu sĩ là những người tự nguyện sống trọn những lời khuyên của Phúc Âm qua ba lời khấn: khó nghèo, thanh tinh, vâng lời. Ðó cũng là ba nhân đức mà mỗi người Kitô cũng phải thực hành tùy sức, tùy hoàn cảnh và địa vị của mình.

--------
Theo Tỉnh dòng Đaminh Việt Nam

Thứ hai, ngày 18 tháng mười năm 2010

CN LỄ TRUYỀN GIÁO 24/10

Lời Chúa: Mt 28, 16-20

“Anh em hãy làm phép rửa cho muôn dân nhân danh Chúa Cha , và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.”

Bạn thân mến,
Hôm nay là ngày chủ nhật truyền giáo, Giáo Hội mời gọi chúng ta mỗi người hãy coi lại đời sống đạo của mình đã có ảnh hưởng đến một người nào khác chưa, nghĩa là cung cách sống đạo của chúng ta có làm cảm động những người khác không ?
“Truyền giáo là bản chất của Giáo Hội”, bởi vì đó chính là lệnh truyền của Chúa Giê-su trước khi Ngài về trời: “Anh em hãy làm phép rửa cho muôn dân, nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần”, và hơn hai ngàn năm qua, lệnh truyền của Chúa Giê-su vẫn còn được Giáo Hội thực hiện cho dến khi Chúa lại đến trong vinh quang.
Truyền giáo cũng là bổn phận của mỗi một người Ki-tô hữu, bởi vì khi bạn và tôi lãnh nhận bí tích Rửa Tội, thì đồng thời Giáo Hội cũng đã thay mặt Chúa Giê-su trao cho chúng ta một sứ mạng cao quý, đó là sứ mạng truyền giáo. Sứ mạng này được Chúa Thánh Thần thúc đẩy và soi sáng khi chúng ta đến tuổi khôn, và nhờ học hỏi và thực hành Lời Chúa, mà chúng ta biết cách đem Chúa đến cho mọi người, bằng cách ăn nết ở của mình phù hợp với tinh thần Phúc Âm, và bằng cách tham dự thật sống động các bí tích cũng như thánh lễ, bởi vì đó chính là nguồn mạch của ơn Chúa ban cho nhân loại.

Bạn thân mến,
Bạn truyền giáo bằng công việc của bạn: đi làm đúng giờ, tận tâm với công việc, hòa nhã với đồng sự, sẵn sàng giúp đỡ họ khi cần thiết; tôi truyền giáo với công việc mục vụ của tôi: cử hành thánh lễ thật sốt sắng trang nghiêm, chuẩn bị bài giảng bằng cuộc sống, vui vẻ với giáo dân và mau mắn khi đi kẻ liệt và thật vui khi có người đến xưng tội ngoài giờ...
Truyền giáo là nói về Chúa Giê-su cho người khác nghe; sống như Chúa Giê-su cho người khác thấy, nghĩa là đem Chúa Giê-su Ki-tô giới thiệu cho mọi người bằng chính cuộc sống phục vụ và yêu thương của chúng ta.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

-------------
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

Thứ bảy, ngày 26 tháng sáu năm 2010

LỄ THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ TÔNG ĐỒ

LỄ THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ TÔNG ĐỒ

Tin mừng : Mt 16, 13-19

“Anh là Phê-rô, Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời”.

Bạn thân mến,

Hôm nay toàn thể Giáo Hội hân hoan mừng lễ hai thánh Phê-rô và Phao-lô Tông Đồ, hai vị thánh hai khuôn mặt, hai đời sống và là hai cột trụ của Giáo Hội Công Giáo, trong tâm tình ấy tôi xin chia sẻ với anh chị em hai nét sau đây của hai vị thánh lớn của Giáo Hội.

  1. Nhiệt tình với sứ mệnh.

Thánh Phê-rô và thánh Phao-lô đều có tâm hồn nhiệt tình với sứ mạng mà Chúa Giê-su đã giao phó, sự nhiệt tình này Chúa Giê-su đã nhìn thấy khi chọn các ngài làm tông đồ, và giao phó trọng trách gánh vác Giáo Hội của Ngài.

Nhiệt tình chất phác bộc trực cương nghị của thánh Phê-rô, đã được Chúa Giê-su khám phá ra khi ngài đang đánh cá với anh là An-rê, Ngài nói : “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” và hai ông đã lập tức bỏ chài lưới mà theo Ngài.

Nhiệt tình hăng hái của thánh Phao-lô đã bộc lộ rất rõ, khi ngài giữ áo cho người ta ném đá tử hình thánh Stephanô cũng như đang hăng hái bách hại Giáo Hội tiên khởi của Chúa Giê-su, sự nhiệt tình này không phải vì danh dự cá nhân, nhưng nhiệt tình vì lòng yêu mến Đức Chúa Ya-Vê của người Do Thái.

Tâm hồn nhiệt tình là điều cần thiết trước tiên để được chọn, không ai chọn một tinh binh không có dũng khí chiến đấu để làm tiên phong, cũng không ai chọn một người dù tài cao học rộng nhưng không nhiệt tình với bổn phận để giao trọng trách, nhưng người ta đã chọn người có tâm hồn nhiệt tình hăng say với công việc để giao phó sứ mệnh quan trọng…

Hai thánh Phê-rô và Phao-lô tông đồ đã có đức tính này ngay trong cuộc sống đời thường của các ngài, và sau khi được chọn với ân sủng của Thánh Thần, các ngài càng thêm nhiệt tình với sứ mạng mà Chúa Giê-su Ki-tô giao phó cho các ngài, đó chính là sứ mạnh loan báo Tin Mừng Nước Trời.

Nhiệt tình của chúng ta có thừa, nhưng sự nhiệt tình này chúng ta đã dùng không đúng chỗ: chúng ta nhiệt tình với bạn bè mà không nhiệt tình với Thiên Chúa; chúng ta nhiệt tình với các hợp đồng béo bở nhưng lại lạnh băng với công tác từ thiện; chúng ta nhiệt tình với những công trình tiếng tăm để đời, nhưng lại nguội lạnh với công việc mà Chúa Giê-su Ki-tô đã trao cho chúng ta trong ngày lãnh nhận bí tích Rửa Tội và Thêm Sức là loan báo và làm chứng nhân cho Chúa Giê-su Ki-tô trong cuộc sống hằng ngày của mình.

  1. Yêu mến Chúa Giêsu hết lòng.

Một thánh Phê-rô đã ba lần trả lời với Chúa Giê-su khi được Ngài hỏi: “Thưa Thầy, có, Thầy biết con yêu mến Thầy”.

Một thánh Phao-lô đã tuyên bố: “Thật vậy, chúng tôi có điên, thì cũng là vì Thiên Chúa” và chính ngài cũng đã không ngại ngùng nói: “Tình yêu Đức Ki-tô thôi thúc chúng tôi.”

Yêu mến Chúa Giê-su làm gia tăng sự nhiệt thành trong tâm hồn của các ngài, cho nên dù chịu biết bao khổ cực, nhọc nhằn, dù chịu bao nhiêu hy sinh gian nan thì các ngài vẫn cứ yêu mến Chúa Giê-su, và vì yêu mến Đấng đã chọn mình làm khí cụ loan báo tin mừng Nước Trời, nên các ngài vui lòng chia sẻ nổi khổ đau với Chúa Giê-su. Tình yêu đã làm nên những điều kỳ diệu nơi người đang yêu, và điều kỳ diệu trước tiên xảy ra chính là hai thánh Phê-rô và Phao-lô đã cảm nghiệm Đấng mình yêu đang rất gần gũi bên mình, và do đó mà hai ngài đã không quản ngại hy sinh gian khổ để làm chứng cho tình yêu…

Yêu mến Chúa Giê-su là năng lượng thúc đẩy chúng ta đi vào không gian vô tận của tình yêu Thiên Chúa, để sự nhiệt tình của chúng ta trở nên năng lực thúc đầy người khác biết yêu mến và sống tinh thần yêu mến của Chúa Giê-su…

Bạn thân mến,

Hai thánh Phê-rô và Phao-lô tông đồ chính là hai ngọn đèn tỏa sáng của Giáo Hội, chính trên nền tảng Phê-rô này, mà Phao-lô nổi bật với những giáo huấn về Chúa Giê-su và đã làm cho ngài trở thành trụ cột của Giáo Hội như thánh Phê-rô.

Mừng lễ hai thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô hôm nay, chúng ta cầu xin hai ngài ban cho chúng ta có tâm hồn nhiệt tình với tâm tình yêu mến Chúa Giê-su, bởi vì chỉ có sự nhiệt tình mới làm cho sứ mệnh tông đồ của chúng ta được tiến triển, và Lời Chúa được mau chạy tiến bước đến với mọi tâm hồn.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Thứ năm, ngày 03 tháng sáu năm 2010

LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KI-TÔ

Tin mừng : Lc 9, 11b-17.

“Mọi người đều ăn, và được no nê”.

Bạn thân mến,

Hôm nay Giáo Hội long trọng mừng lễ kính Mình và Máu Thánh của Chúa Giê-su, đây là một sự tôn vinh chúc tụng ngợi khen và cám tạ hồng ân mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại chúng ta, để khi chúng ta ăn và uống Máu Thịt Thánh này thì được sự sống đời đời. Trong tâm tình cảm tạ sâu sắc hồng ân này, tôi xin chia sẻ với bạn mấy điểm sau đây

1.Lao động là cơm bánh nuôi thân xác.

Khoa học ngày càng phát triển, con người ngày càng hưởng thụ, và khi thân xác được no nê đầy đủ thì linh hồn lại thiếu thốn, đó là “quy luật” của xã hội thời hiện đại. Con người ta sống ở đời không ăn không uống thì thân xác chết dần mòn, do đó mà mọi người cần phải nổ lực làm việc để có cơm bánh nuôi sống thân mình và gia đình. Khoa học càng phát triển thì con người càng khó tìm việc làm cho mình, bởi vì khoa học đã thay thế rất nhiều công việc trong các lãnh vực. Tuy nhiên lao động vẫn là nhân tố chính để khoa học tiến bộ.

Mồ hôi đổ xuống trên ruộng đồng của bác nông phu để những mảnh đất trở thành hạt lúa thơm ngon nuôi sống con người; mồ hôi đổ xuống trên những nhà máy của anh công nhân đã làm cho khoa học trở nên cơm bánh nuôi sống mọi người; mồ hôi đổ xuống trên bục giảng với hơi thở bay màu bụi phấn của các thầy cô giáo, được biến thành cơm bánh nuôi sống họ và gia đình...

Lao động là để có cơm ăn áo mặc, lao động là để có của cải giúp người nghèo khó đó là ý muốn của Thiên Chúa khi Ngài nói với nguyên tổ chúng ta: “Hãy cai quản vũ trụ...” Đó cũng là điều mà Thánh Phao-lô tông đồ đã dạy: “Ai không làm thì đừng ăn”.

2.Hy sinh tận hiến làm nên Thánh Thể

Trước khi lìa thế gian để về ngự bên hữu Thiên Chúa Cha, Chúa Giê-su đã làm một cử chỉ yêu thương đầy khiêm tốn là rửa chân cho các môn đệ của mình, hành vi khiêm tốn này lột tả được tất cả yêu thương và hy sinh của Ngài với việc làm tiếp theo sau là lập bí tích Thánh Thể.

Bí tích Thánh Thể là bí tích Yêu Thương, là bí tích của Hy Sinh và Tận Hiến: Hy sinh thân xác mình làm giá cứu chuộc tội nhân là nhân loại chúng ta, Tận Hiến cho Chúa Cha với tất cả sự phục tùng tín thác, để thân xác hy sinh ấy trở nên tấm bánh thiêng liêng nuôi sống linh hồn người tín hữu khi Chúa Giê-su nói : “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Và thật rõ ràng khi Chúa Giê-su dạy các môn đệ: hãy yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương các ông.

Yêu thương nhau tức là hy sinh và tận hiến cho nhau, mà cao đỉnh của tình yêu hy sinh tận hiến chính là chết cho người mình yêu, cũng có nghĩa là trở nên tấm bánh cho người yêu hưởng dùng, đó chính là ý nghĩa đích thực của ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa Giê-su hôm nay.

Bạn thân mến,

Mỗi lần chúng ta đi tham dự thánh lễ là chúng ta phải có tâm tình xác tín rằng: bánh miến và rượu nho trên bàn thờ ấy, cũng có những công lao vất vả mồ hôi của chúng ta góp vào, với tất cả những tâm tình hy sinh và yêu mến, nó sẽ trở nên Máu Thịt của Chúa Giê-su Ki-tô nuôi sống linh hồn và thân xác của chúng ta ở trần gian này. Do đó mà mỗi người trong chúng ta phải hết sức kính trọng, yêu mến và khiêm cung khi lãnh nhận Mình và Máu Thánh của Chúa Giê-su nơi tay của linh mục trao ban.

Trong tâm tình ngày lễ hôm nay, tôi xin bạn hai điều :

- Với sản phẩm thành quả của lao động mà chúng ta đã làm ra, trước hết là để nuôi sống bản thân và gia đình, sau là xin anh chị em thay mặt Chúa Giê-su vươn cánh tay nối dài của Ngài nơi chúng ta đến với những người nghèo khổ, đến các viện mồ côi, viện dưỡng lão.v.v.v... để giúp đỡ họ.

- Mỗi lần đi đến nhà thờ tham dự thánh lễ, xin anh chị em ý thức rằng: mình đang về nhà Cha để cùng với các anh chị em tín hữu khác tham dự tiệc Nước Trời, do đó tôi xin anh chị em đem theo mình nụ cười tươi vui, cái bắt tay thân thiện và lời hỏi thăm quan tâm nồng nhiệt đến với mọi người mà chúng ta gặp trên đường đi, hoặc là tại nhà thờ nơi mà chúng ta đang tham dự thánh lễ ...

Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta.

Thứ hai, ngày 17 tháng năm năm 2010

CHỦ NHẬT LỄ THĂNG THIÊN

Tin Mừng : Lc 24, 46-53.

“Đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời”.

Bạn thân mến,

Hôm nay lễ Chúa Giê-su lên trời, lên trời đối với các thần học gia thì lên trời là lên ngự bên hữu Đức Chúa Cha, là Chúa Giê-su đi vào viên mãn vinh quang của Thiên Chúa, nhưng đối với người Ki-tô hữu chúng ta lên trời là lên thiên đàng. Đơn giản nhưng đầy ý nghĩa.

Chúa Giêsu lên trời là một thực tại có thật theo lời tường thuật của thánh Lu-ca trong sách Công Vụ Tông Đồ cũng như trong Tin Mừng của ngài: “Và đang khi chúc lành thì Ngừơi rời khỏi các ông và được đem lên trời”, “...Nói xong, Người được cất lên ngay trước mặt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa”. Hợp rồi tan, tan rồi hợp là lẽ thường của người thế gian và hợp tan nào cũng có mất mát và đau thương, các tông đồ cũng vậy: nhớ thương và tiếc nuối. Nhưng rồi các ngài lòng cũng tràn ngập hân hoan vì lời hứa của Chúa Giê-su: Thầy đi và rồi Thầy sẽ trở lại.

Chúa Giê-su lên trời là lên thiên đàng sau khi đã chiến thắng tử thần của ma quỷ, là niềm hy vọng của bạn và tôi, và của những ai vì Ngài mà chịu sỉ nhục ở đời này.

Cuộc sống đời này của bạn và tôi là chuẩn bị cho ngày sau ở trên thiên đàng, như Chúa Giê-su đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, chúng ta cũng sẽ chiến thắng cái làm cho chúng ta không được lên thiên đàng, mà cái gì làm cho chúng ta không được lên trời với Chúa Giê-su, đó là:

- Tội lỗi: đây là ngục tù kiên cố nhất nhốt chúng ta lại không cho chúng ta lên trời với Chúa Giê-su.

- Cái tôi: đây là cái đã xiềng đôi chân của chúng ta, không cho chúng ta đi tới với Chúa Giê-su trong cuộc sống đời thường...

- Kiêu ngạo: là nguyên nhân thứ nhất để cho tội lỗi vào trong thế gian, nó cũng là cái làm cho chúng ta xa lìa ân sủng của Thiên Chúa trong cuộc sống thường ngày...

Bạn thân mến,

Chúa Giê-su lên trời trước mặt các môn đệ để cho chúng ta hiểu rằng, sứ mạng của Ngài ở trần gian đến đây là kết thúc, kết thúc mà không đóng lại, nhưng tiếp tục bắt đầu từ nơi các tông đồ là những người được sai đi, để làm cho muôn dân nhận biết Tin Mừng của Thiên Chúa, và quan trọng hơn chính là mọi người cùng nhau tham dự tiệc cưới trên thiên đàng của Con Chiên đã chiến thắng tử thần và tội lỗi.

Lên thiên đàng là mục đích sống của bạn và tôi ở trần gian này, vì thế Chúa Giê-su muốn mỗi người trong chúng ta hãy mau mắn gởi “các vật liệu” về thiên đàng để các thiên thần giúp xây nhà hạnh phúc viên mãn, “các vật liệu” của chúng ta là khiêm tốn, hy sinh, phục vụ và yêu thương tha nhân như chính mình...” đó là các vật liệu bền chắc không sợ mối mọt gặm nhấm...

Mừng lễ Chúa Giê-su lên trời vinh hiển, tức là bạn và tôi cũng mừng lễ lên trời của chúng ta, bởi vì không lẽ “đầu” –là Chúa Giêsu- đã lên thiên đàng, còn “thân mình” –là Hội Thánh- thì ở dưới vực sâu sao ?

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.
----------------
Lm.Giuse-Marai Nhân Tài, Csjb.

Thứ ba, ngày 27 tháng tư năm 2010

ĐỀN THÁNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Đón nhận tước hiệu Đền Thánh : Lòng Thương xót Chúa.
Giáo xứ Liễu Đề - Giáo phận Bùi Chu


http://3.bp.blogspot.com/_6d8KH9akheU/S9VfviMp7XI/AAAAAAAAACw/i6xGVmuhyqQ/s1600/DSC03143.JPG

http://1.bp.blogspot.com/_6d8KH9akheU/S9UQrebcFhI/AAAAAAAAACY/K-YyLAytwhQ/s1600/DSC03164.JPG

NGƯỜI MỤC TỬ NHÂN LÀNH

“Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16). Đó chính là lý do mà Đức Giêsu đã phải xuống thế làm người. Và đó chính là sứ điệp mà Đức Giêsu đã bày tỏ với Nicôđêmô trong một đêm hai người gặp gỡ.
Trong ba năm thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng. Đức Giêsu luôn trình bày cho mọi người thấy khuôn mặt về một Thiên Chúa là tình yêu. Một Thiên Chúa như là Người Mục Tử nhân lành; sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên. Vị Thiên Chúa đó chính là Ngài như lời Ngài khẳng định : “Tôi và Chúa Cha là một” (Ga10,30).
Có vẻ như nhiều người Do Thái không hiểu lời loan báo này. Vì thế đã có biết bao câu hỏi được đặt ra. Đã có rất nhiều lời đồn đoán về Ngài. Khi thì họ nghi rằng Ngài là “Ông Gioan Tẩy Giả”. Lúc họ nghĩ rằng Ngài là “ông Êlia hay một ngôn sứ nào đó”…
Sự không hiểu biết đó đã dẫn đến những tranh luận gay gắt giữa Đức Giêsu và người Do Thái. Hôm nay, trong dịp “lễ Cung Hiến Đền Thờ”. Khi thấy “Đức Giêsu đi đi lại lại trong Đền Thờ, tại hành lang Salômôn”. Người Do Thái – một lần nữa – không bỏ lỡ cơ hội. Họ vây quanh Đức Giêsu và một cuộc chất vấn nổ ra. Họ muốn được biết sự thật về một “Đấng Kitô” mà lâu nay đã khiến cho : “lòng trí họ phải thắc mắc”. (Ga 10, 24).
Không quá khó để Đức Giêsu có một câu giải đáp thắc mắc cho họ. Nhưng cái khó ở đây là vì - như lời Đức Giêsu đã nói với họ rằng : “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi.”(Ga 10,25). Cuộc chất vấn chấm dứt một cách đáng thất vọng. Thất vọng vì “họ không tin” Đấng Kitô mà họ đang khao khát được biết chính là : “Đức Giêsu - Người Mục Tử nhân lành”. Người mục tử sẵn sàng : “Hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên” Và sẵn sàng bảo vệ đàn chiên để : “không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng” (Ga 10,28).

Một chút tâm tình…

Có hình ảnh nào đẹp và dễ thương hơn cho bằng hình ảnh Đức Giêsu ví Ngài là : “Người Mục Tử Nhân Lành”. Thánh Vịnh hai mươi ba là một Thánh vịnh đã mô tả hình ảnh người mục tử nhân lành đầy ấn tượng. Hình ảnh người mục tử đó đã để lại nơi chúng ta một cảm giác an toàn và hạnh phúc.
Có gì hạnh phúc và an toàn hơn khi chính : “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ”. (Tv 23, 1-2). Và dù có phải : “Qua thung lũng âm u… con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng”.(Tv 23, 4).
Vâng, không có gì an toàn và hạnh phúc hơn khi chúng ta : “Nghe tiếng Chúa, Chúa biết chúng ta và chúng ta theo Chúa…”

Một phút suy tư…

Hôm nay; khi nói đến người mục tử - hẳn nhiên chúng ta nghĩ đến các vị chủ chăn của chúng ta. Họ là những Giám Mục và Linh Mục. Những người kế vị các thánh tông đồ quyền “chăm sóc và chăn dắt” qua Bí Tích Truyền Chức Thánh.
Nếu các Linh Mục khi lãnh nhận Bí tích truyền chức; họ được trao ban chức tư tế - “Tư tế thừa tác”. Thì người Kitô hữu khi lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy; cũng được trao ban chức tư tế - nhưng là “tư tế cộng đồng”.
Công Đồng Vatican II dạy rằng : “Chức tư tế chung của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật, tuy khác nhau không chỉ về cấp bậc mà còn về yếu tính; song cả hai bổ sung cho nhau. Thật vậy, cả hai đều tham dự vào chức tư tế duy nhất của Chúa Kitô theo cách riêng của mình” (Hiến chế tín lý về Giáo Hội – số 10).
Khi đã nhận thức được điều này thì bàn tay của người “tư-tế-cộng-đồng” thay vì vội vã vung tay lên án bởi một vài sự yếu đuối của một vài thành phần mục tử trong Hội Thánh. Nhưng hãy đưa bàn tay ra hiệp thông với người “tư-tế-thừa tác” - như lời Linh Mục Charles E.Miller đã nói : “không phải tay này đặt lên tay kia như thể có sự khác biệt bên trọng bên khinh… Trái lại, chúng phải là hình ảnh hai bàn tay áp chặt vào nhau, lòng bàn tay này với lòng bàn tay kia trong dáng điệu cầu nguyện” ( nguồn : Sunday Preaching).
Thánh Lễ là hình ảnh đẹp nhất cho sự hiệp thông giữa người tư-tế-cộng-đồng và Linh Mục chủ tế - người tư-tế-thừa-tác. Lời kinh nguyện Thánh Thể III nêu bật sự kiện này : “Khi chúng con được Mình và Máu Con Cha bổ dưỡng, được tràn đầy Thánh Thần của Người, xin cho chúng con trở nên một thân thể và một tinh thần trong Đức Kitô”.
Linh Mục và giáo dân bổ sung cho nhau. Cùng nhau dâng lời cầu nguyện trong Phụng Vụ. Tất cả không chỉ làm trọn chức Thượng Tế duy nhất của Đức Giêsu Kitô mà còn – một lần nữa – khẳng định trước mọi người rằng : Đức Giêsu Kitô – Ngài chính là “Người Mục Tử Nhân Lành”.
--------
Petrus.tran